Mi mẹ ngồi yên lặngĐể "bác sĩ" khám choChắc lại đi đầu nắngBệnh này là bệnh hoThuốc ngọt chứ không đắngPhải uống với nước sôiNếu tiêm thì đau lắmMẹ lại khóc nhè thôiMẹ bỗng hỏi "bác sĩ"Sổ mũi uống thuốc gì?"Bác sĩ" chừng hiểu ýUống sữa với bánh mỳ!
Bé muốn làm họa sĩĐể vẽ ông mặt trờiVới những tia nắng ấmSáng rực khắp muôn nơiBé thích làm họa sĩĐể vẽ cô và mẹMẹ có đôi mắt trònCòn cô cười rất tươiBé ước làm họa sĩĐể vẽ bạn, vẽ trườngVẽ những gì yêu thíchĐậm hình trên tranh bé.

Bạn đang xem: Thơ chủ đề nghề nghiệp


Nay em xếp hạcĐếm đủ một trămNhắm mắt ước thầmMong sao thành đạtEm là bác sĩChữa bệnh mọi ngườiHay là cô giáoTrẻ nghèo em chămLà người đưa thưĐêm niềm vui đếnChân em đi khắpQuê hương của mìnhMơ ước thật xinhLà mơ hạnh phúcĐến cho tất cảMọi người quanh ta.
4. Thơ “LÀM NGHỀ NHƯ BỐ”
*

Bố Tuấn lái tàuBố Hùng đốt lửaQua lắm vùng quêHùng, Tuấn rất mêLàm nghề như bốBao nhiêu ghế nhỏBuôc níu vào nhauCu Tuấn làm tàuHùng làm người láiThổi kèn lá chuốiCho tàu rời gaChạy khắp trong nhàTàu kêu: Thích! Thích!
5. Thơ “BÉ LÀM BAO NHIÊU NGHỀ”
*

Bé chơi làm thợ nềXây nên bao nhà cửa.Bé chơi làm thợ mỏĐào lên thật nhiều than.Bé chơi làm thợ hànNối nhịp cầu đất nướcBé chơi làm thầy thuốcChữa bệnh cho mọi người.Bé chơi làm cô nuôiXúc cơm cho cháu bé.Một ngày ở nhà trẻBé "làm" bao nhiêu nghề.Chiều mẹ đến đón vềBé lại là ... cái Cún.
Chú là chú emChú đi tiền tuyến, nửa đêm chú vềBa lô con cóc to bèMũ tai bèo bẻ vành xòe trên vaiCả nhà mừng quá chú ơi!Y như em đã mơ rồi đêm nao.Chú về kể chuyện vui saoMỹ thua cũng khóc nhu nhiều trẻ conChắp tay lạy má xin cơmEm mà có đói chẳng hèn thế đâu.Muốn xin chiếc mũ tai bèoLàm cô giải phóng, vượt đèo Trường Sơn.
Chuối xanh một quảCắm bốn chân treThành con trâu đựcNhìn giống giống ghê!Hai ngọn cờ ngôLàm cây cày nhỏĐem ra giữa ngõBuộc trâu đi càyTrâu ơi, gắng điCày cho xong ruộngChiều ta về sớmCất chuồng cho TrâuVắt! vắt! đi nàoSao trâu chậm thế?Trâu mệt rồi ư?Chúng mình nghỉ nhé!Bóng mát ngõ trưaThả trâu ăn cỏ
Mình đỏ như lửaBụng chứa nước đầyTôi chạy như bayHét vang đường phốNhà nào bốc lửaTôi dập liền tayAi gọi chữa cháy?" Có... ngay! Có... ngay!"
Sáng nay mẹ dậy sớmDắt trâu đen đi bừaMẹ không quản xóm trưaBừa đất tơi thành luốngĐể trồng ngô khoai sắnTrồng quả ngọt rau tớiCho thức ăn mọi ngườiGiữ môi trường xanh sạchSáng mai mẹ lại dắtChú trâu đen đi bừa.
Mẹ cha công tácNhà máy Bát TràngMang về cho béCái Bát xinh xinh.Từ bùn đất sétQua bàn tay chaQua bàn tay mẹThành cái bát hoaNâng niu bé giữMỗi bữa hằng ngàyCông cha,công mẹBé cầm trên tay.
1. Truyện “BÁC NÔNG DÂN”
*
Từ sáng sớm, trên cánh đồng lúa chín vàng, các bác nông dân thoăn thoắt đưa liềm xén ngang từng khóm lúa.Mặt trời càng lên cao, mọi người càng gặt nhanh tay, mồ hôi nhỏ giọt và ướt đầm lưng áo. Nhìn những lượm lúa mẩy vàng óng các bác nông dân rất vui vì đã bỏ công chăm sóc để có một vụ mùa bội thu.2. Truyện “BA ANH EM”
*
Một ông cụ có một ngôi nhà nhỏ và ba con trai. Cụ muốn cho các con học nghề bèn bảo các con:-Các con, mỗi ngừoi hãy học lấy một nghề. Sau này, ai tỏ ra tải giỏi nhất cha sẽ cho ngôi nhà này.Ba người con vâng lời. Họ chia tay nhau, mỗi người đi một ngả. Anh con cả học nghể thợ cạo: anh khéo léo lắm nên thường được vua mời vào cung để phục vụ nhà vua. Anh thứ hai học nghế đóng móng ngựa: anh cũng kéo léo lắm nên thường được đóng móng ngựa cho các vị đại thần. Người em út học múa kiếm rất thành thạo. Đúng ngày đã hẹn trước ba anh em về họp ở nhà cha. BÀ con hàng xóm rủ nhau đến chơi. Ba anh em chưa biết trổ tài bằng cách nào thì bỗng thấy một con thỏ cạhy nganag. Người anh cả vội vàng rút dao cạo và hộp xà phòng đuổi theo, cạo sạch sẽ bộ ria thò mà thỏ không bọ xây xát mép. Mọi người đều trầm trồ tán thưởng.Bỗng một cỗ xe bốn ngựa kéo chạy qua. Anh thứ hai liền phóng theo, thay lại các bộ móng tươm tất, trong khi cỗ xe cứ cạhy như bay. Mọi người ai cũng phục tài.Lúc đó trời bắt đầu mưa. Người con út rút kiếm ra sân múa.Mưa càng to anh múa kiếm càng nhanh. Lúc trời lạnh, người anh vẫn khô ráo, không bị dính một giọt nước. Mọi người đều đồng ý thưởng ngôi nhà cho anh.Nhưng ba anh em thương yêu nhau lắm. Họ vẫn chung sống cùng nhau trong một nhà. Họ ;làm ăn kéo lại tốt bụng, thật thà nên rất đông khách hàng và học trò. Họ sống bên nhau hòa thuận vui vẻ suốt đời.3.Truyện “Chim Thợ may”Có một loài chim nhỏ, đuôi dài, rất đẹp và duyên dáng, nhưng vì ở tận trong rừng sâu nên không ai biết được. Nó buồn lắm. Một hôm, nó gặp Hổ than thở:– Thưa Chúa Sơn Lâm, ở trong rừng, từ chim Sâu, chimGõ Kiến, Chèo Bẻo, Chích Chòe, cho đến Phượng Hoàng, chim Ưng, muôn loài đều có tên. Họ hàng nhà tôi khá đông lại đẹp cần cù, thông minh nữa. Ấy vậy mà chúng tôi không có tên tuổi gì cả. Như vậylà không công bằng, mong Chúa Sơn Lâm xem xét!Hổ động viên:– Yên Trí! Yên trí! Rồi đâu sẽ có đó. Theo ta, muốn có tên không khó. Cái khó là làm sao xứng với cái tên ấy thôi. Có gì đáng tự hào, nếu như nghe đến tên mình mà ai cũng căm ghét muốn tránh cho xa. Ta báo cho nhà chị biết, Phượng Hoàng đang mở cuộc thi làm tổ đấy. Nếu làm tổ khéo nhất, chắc chắn cả núi rừng này sẽ biết đến họ hàng nhà chị thôi.Nghe Hổ nói vậy, nó phấn khởi quay về, tập trung cả họ hàng lại bàn việc làm tổ thế nào cho bền, cho đẹp. Theo phân công của chim mẹ, các chim thợ cần mẫn nhặt nhanh những cành lá úa dài, mảnh và bền cả những sợi bông, sợi len, sợi vải vương vãi dưới đất làm chỉ. Để bắt tay vào làm tổ, trước hết phải tìm hai cái lá to và chắc mọc sát nhau. Chim mẹ dùng mỏ sắt thay kim khâu túm các mép lá lại. Sau khi dùi thủng mép lá, chim mẹ cắn chỉ dùi qua lỗ thủng của lá để khâu từ mép lá đến cuống lá rồi dùng bông, sợi cỏ, sợi vải mềm để “rải thảm” và “ốp tường”. Một tuần sau chiếc tổ xinh xinh vừa bền đẹp đã hoàn thành. Cứ y như một thợ may lành nghề khâu vậy.Kết quả, chiếc tổ ấy được bình là chiếc tổ đẹp nhất, bền nhất và đại gia đình nhà chim “vô danh” kia được Phượng Hoàng tặng danh hiệu “chim Thợ May”. Danh hiệu ấy trở thành tên của loài chim Thợ May đấy các cháu ạ!4.

Xem thêm: Tài Liệu Ôn Thi Ic3 Gs4 - Học Và Ôn Thi Chứng Chỉ Ic3

Truyện “Vẽ chân dung Mẹ”
*
Mẹ vừa ra ngoài một lát mà Đông đã nhớ mẹ. “Con đếm từ 1 đến 3 là mẹ phải về đấy nhé!” – Đông thầm nghĩ và giơ bàn tay ra bắt đầu đếm. Đông đếm mỗi con số kéo dài ra: “Một…” và vểnh tai lắng nghe. Ngoài cửa vẫn chưa nghe thấy tiếng chân mẹ. “Hai…” – Đông lại đếm con số hai rõ dài, và dỏng tai lắng nghe. Vẫn chưa có động tĩnh gì. Rồi Đông đếm con số ba dài hơn “Ba…”. Vẫn không có động tĩnh gì. Em bước đến cửa, dán mắt vào khe cửa nhìn ra ngoài, chẳng có ai cả. Mẹ chưa về. Đông nhớ mẹ quá! “ Mình sẽ vẽ chân dung mẹ!” Đông vẽ một vỏng tròn rõ to rồi hôn lên vòng tròn to đó. Nhẹ hôn lên hai vòng tròn nhỏ, Đông thì thầm: “Đây là đôi mắt của mẹ”. Đông vẽ tiếp đôi môi của mẹ. Vừa vẽ xong, Đông bổng nghe tiếng gõ cửa và giọng nói quen thuộc của mẹ: “Mẹ đây, cực cưng của mẹ”. Đông vội mở cửa và ào vào lòng mẹ, sung sướng reo lên: “Mẹ!”. Em ôm lấy cổ mẹ thì thầm: “Mẹ, con đếm đến 3 mà mẹ vẫn chưa về. Con hôn lên mắt mẹ thì mẹ về ngay”. Nói xong Đông hôn tiếp lên má mẹ.5.Truyện “Gà Trống Choai và hạt đậu”Ngày xửa ngày xưa có một chàng Gà Trống Choai và một chị Gà Mái ghẹ. Trống Choai lúc nào cũng vội vội vàng vàng, Gà Mái nhẹ nhàng bảo:- Trống Choai, đi đâu mà vội, Trống Choai, đi đâu mà vội.Một lần, Trống Choai mổ được ít hạt đậu, nhưng nuốt vội quá nên bị hóc. Hạt đậu mắc cứng trong cổ họng làm cho anh Trống Choai không thở được, không nghe được gì hết, cứ nằm im như chết.Gà Mái hết hồn, chạy vội đi tìm bà chủ kêu toáng lên:- Bà chủ ơi, bà cho tôi xin tí bơ để xoa cổ Gà Trống, nó bị hóc một hạt đậu rồi.Gà chạy đi tìm Bò mẹ xin nó ít sữa, để bà chủ chưng lên thành bơ, bơ ấy tôi đem xoa cổ Gà Trống, nó bị hóc một hạt đậu rồi.- Gà chạy nhanh đi tìm ông chủ, bảo ông ấy cho tôi ăn bó cỏ.- Bò mẹ nói.Gà Mái lại hớt ha hớt hải đi tìm ông chủ:- Ông chủ ơi, ông chủ! Ông đem cho Bò mẹ bó cỏ tươi, Bò sẽ cho tôi ít sữa để bà chủ chưng lên thành bơ, bơ ấy tôi đem xoa cổ Gà Trống, nó bị hóc một hạt đậu rồi.- Gà chạy nhanh đến bác thợ rèn, bảo ông ấy đưa cho cái liềm cắt cỏ - Ông chủ nói. Gà Mái lại ba chân bốn cẳng chạy đến bác thợ rèn:- Bác thợ rèn ơi, bác cho ông chủ tôi mượn cái liềm để ông chủ tôi cắt cỏ cho bò ăn, Bò sẽ cho tôi ít sữa để bà chủ chưng lên thành bơ, bơ ấy tôi đem xoa cổ Gà Trống, nó bị hóc một hạt đậu rồi.Bác thợ rèn chạy ngay vào nhà lấy liềm cho gà mượn, Gà chạy như bay về nhà đưa liềm cho ông chủ, ông chủ cắt ngay bó cỏ tươi cho bò ăn, rồi Bò cho một cốc sữa, gà cõng cốc sữa trên lưng chạy lên nhà đưa cho bà chủ, bà chủ chưng ngay cốc sữa thành miếng bơ đưa cho chị gà. Chị Gà mang ngay miếng bơ cho vào miệng Gà Trống, thế là miếng bơ cùng với hạt đậu trôi tuột xuống cổ. Chú Trống Choai tỉnh ngay, bật dậy cất giọng gáy vang: “Ò, ó, o...o...”CÂU ĐỐ